Chia sẻ kinh nghiệm

Phần 1: Lịch sử thịnh vượng & đồng tiền thống trị của các cường quốc

Tác giả: Nguyen Thi Huu Le
1

Anphareal - Bởi #Đông DC - Sự thịnh vượng của Bồ Đào Nha kéo dài cực thịnh kéo dài 80 năm sau khi các kỹ thuật hàng hải đã được sao chép, phổ biến và không còn là ưu thế của riêng Bồ Đào Nha nữa, đặc biệt với các nước đông dân như Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Nhưng Tây Ban Nha đã gặp may

Giới thiệu các bạn Bài viết số 1 trong loạt 3 bài viết lược sử thịnh vượng của các cường quốc thống trị trên góc nhìn 3 cực Phương Tây (bao gồm Mỹ) Trung Quốc và Việt Nam. Mang tới cái nhìn khái quát về kinh tế - lịch sử nắm bắt vận hội dựa trên sự hiểu biết về Thiên thời – Địa lợi – Nhân Hòa của mỗi người đi tìm kiếm sự thịnh vượng. Sự thịnh vượng của mỗi cá nhân – gia đình - công ty/tổ chức – cộng đồng suy cho cùng đều nằm trong sự thịnh vượng chung của quốc gia – của dân tộc.

Loạt bài viết này có 1 bài khái quát tiến trình trở lên hùng cường thành kẻ thống trị lần lượt của 6 cường quốc trong lịch sử Tư Bản: Bồ Đào Nha → Tây Ban Nha → Hà Lan → Pháp → Anh → Mỹ và thời gian tương ứng đồng tiền của mỗi quốc gia này được dùng làm tiền ngoại tệ dự trữ của các quốc gia khác. Một bài về thách thức từ câu hỏi liệu có là siêu cường thứ 7 – Trung Quốc.

Bài cuối – bài số 3 cơ hội góc nhìn từ Việt Nam trong thời khắc của những sự kiện lịch sử, những điều chưa từng xảy ra của lịch sử nước Mỹ ở cuộc bầu tổng thống 2020 - chuyển giao quyền lực không hề suôn sẻ tốn nhiều báo mực tranh cãi, thuyết âm mưu. Và những sự kiện chuyển đổi số - quốc gia số - đồng tiền số với tốc độ kinh hoàng đang diễn ra tại Trung Quốc đại lục khi mà covid đang diễn ra nó có lý do hạn chế tiếp xúc để phổ biến. Liệu đồng Nhân Dân tệ kỹ thuật số có đủ sức yểm trợ cho con đường tơ lụa mới để Trung Quốc mở rộng phạm vi ảnh hưởng quyền lực mềm của mình!?.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc như con rồng bị buộc chân kể từ sau thất bại chiến tranh nha phiến 1840-1860 với đế quốc Anh phải cắt dần đất đai, từ từ sụp đổ của chế độ phong kiến lạc hậu trước các thành tựu của cách mạng khoa học sơ khởi đầu tiên của tư bản thực dân phương Tây.

Mặc dù trước đó với một nền văn minh, một đất nước phát triển sớm nhất và thành công nhất trong suốt một thời gian của loài người với nhiều thành tựu về canh tác, đúc luyện gang thép bằng than cốc đi trước Anh cả 700 năm, có quy mô mô GDP ước tính lớn nhất Thế giới liên tục từ ngày lập quốc cổ đại tới những năm 1800.

Liệu đồng tiền của Mỹ có bị đồng tiền điện tử của 1 quốc gia điện tử Digital Nation đầu tiên trên thế giới - Trung Quốc thách thức thay thế sau đúng 100 năm thống trị của nó?. Loạt bài này sẽ giúp bạn nhìn lại lịch sử thịnh vượng & đồng tiền thống trị của các cường quốc, sự nổi lên, bị soán ngôi rồi suy tàn, từ đó tự đưa ra những phán đoán nhận định của riêng mình.

Lịch sử thế giới đều biết vàng là loại tiền cổ xưa nhất và vẫn tồn tại tới ngày nay, bên cạnh vàng thì ngân hàng nhà nước của mỗi quốc gia đều dự trữ Ngoại tệ mạnh – loại tiền tệ phát hành bởi nước siêu cường, dùng ngôn ngữ cổ xưa đó chính là kẻ thống trị. Sự thống trị và tạo dựng nên những tiêu chuẩn áp đặt trên 3 lĩnh vực : quân sự - kinh tế và cuối cùng là văn hóa và chuẩn mực pháp lý toàn cầu (trong quá khứ là có nhiều khu vực biệt lập cụ thể như châu Âu, Châu Á (khối Đông Á), khối Ả rập v.v.

Sự áp đặt luật lệ về kinh tế dựa trên nhiều yếu tố nhưng thứ phản ánh rõ nhất đại diện cho sự thống trị của nó chính là giá trị đồng tiền. Giá trị đồng tiền – quyền lực của nó càng lớn khi nó chi phối khối lượng giao dịch lớn nhất, và càng uy lực khi nó mang tới thâm hụt thương mại tới quốc gia trao đổi hàng hóa, và các quốc gia đó lại càng phải tích lũy nhiều hơn đồng tiền nước siêu cường để thanh toán quốc tế.

Chúng ta đã quen với đồng tiền nước siêu cường, đồng tiền thống trị là USD, nhưng ít người biết lịch sử thế giới cận đại, tiền thân của chủ nghĩa tư bản đã có những đồng tiền đế quốc trước đó, đồng tiền của ÔNG CHỦ THẾ GIỚI - chủ nợ với nhiều quốc gia còn lại, và được các quốc gia khác dùng làm đồng tiền dự trữ.

Chúng ta bắt đầu với phần đầu tiên.

1. Đồng tiền Esudo đế quốc Bồ Đào Nha thống trị thế giới 80 năm (1450-1530)

Đế quốc Bồ Đào Nha là đế quốc ra đời sớm nhất trong lịch sử đế quốc thực dân Châu Âu. Những nhà thám hiểm Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm eo biển Châu Phi năm 1419, đặt nền tảng cho sự phát triển công nghệ hàng hải (như thuyền buồm, tìm ra khái niệm vĩ độ). Mục đích là để họ có thể tìm được một lộ trình đường biển tới những nguồn giao thương các sản phẩm gia vị, và đế quốc đã có hệ thống thương mại giao thương lớn đầu tiên của cựu thế giới – tiền sơ của tư bản phương Tây. Các chuyến đi hàng hải đầu tiên đã mang tới những hệ thống thuộc địa ven biển đầu tiên từ Bắc Phi tới Nam Phi và tuyến thương mại tới Ấn Độ năm 1497.

Thứ hàng hóa chủ lực đầu tiên người Bồ mang về Châu Âu là đường và gia vị hồ tiêu, một kg đường hay hồ tiêu có thể đổi lấy 1kg vàng. Sự buôn bán giao thương từ hàng hải đã hình thành lên giới thương nhân đầu tiên, tạo cảm hứng cho các quốc gia lân bang học hỏi theo. Và sự giầu có sớm đã làm Bồ Đào Nha làm chủ nợ của nhiều hoàng gia châu Âu.

Sự thịnh vượng của Bồ Đào Nha kéo dài cực thịnh kéo dài 80 năm sau khi các kỹ thuật hàng hải đã được sao chép, phổ biến và không còn là ưu thế của riêng Bồ Đào Nha nữa, đặc biệt với các nước đông dân như Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Nhưng Tây Ban Nha đã gặp may, các bạn đọc tiếp phía dưới để biết lý do nhé.

Tới giữa giai đoạn 1580 thì Bồ Đào Nha với dân số khoảng hơn 1 triệu thời điểm đó đã bị ép trở thành đối tác bậc dưới với Tây Ban Nha (khoảng 8 triệu) trong Liên minh Iberia thông qua các cuộc hôn phối hoàng gia của hai nước, nhằm tránh các cuộc chiến tranh từ các quốc gia khác chính thức phụ thuộc chính trị với Tây Ban Nha. Tương tự với ngày nay vẫn diễn ra các cuộc hôn phối củng cố quyền lực của các gia tộc nắm giữ các tập đoàn hàng đầu ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và tương lai tới đây của Việt Nam. Như vậy có thể thấy đồng tiền Esudo của Bồ Đào Nha là ngoại tệ mạnh – đồng tiền đế quốc, đồng tiền siêu cường được dự trữ tại các quốc gia khác đầu tiên trong quãng 80 năm (1450-1530).

Tình hình Trung Quốc và Việt Nam thời gian này

Thời gian này tương ứng ở Trung Quốc là thuộc giai đoạn Nhà Minh (1368-1662), còn ở Việt Nam chúng ta là nhà Lê Sơ (1428-1527), lập triều đại là Lê Lợi khởi nghĩa chống lại nhà Minh (đô hộ chúng ta, sáp nhập và biến chúng ta lại thành quận Giao Chỉ trong thời gian 20 năm).

Trong suốt lịch sử phong kiến, cứ mỗi lần chúng ta suy yếu, nội bộ triều đình hoàng tộc chia rẽ thì Thiên Triều phương Bắc đều cất quân xâm lược. Và sau mỗi lần chúng ta chống xâm lược thành công, khôi phục nền tự chủ thì cũng đều ngay lập tức cử xứ giả cầu hòa với triểu đình phong kiến Trung Hoa để giữ thể diện cho họ, hàng năm triều cống thì họ mới để yên cho chúng ta tiếp tục sống hòa bình.

Kể từ khi lập quốc, Việt Nam chúng ta không có chữ viết riêng, phải mượn chữ Hán, văn hóa và mô hình quản lý nhà nước của Trung Hoa. Hán tự là một loại ngôn ngữ khó học, khó phổ biến, nhiều biến thể, tiêu chuẩn vì vậy dẫn tới phần đông dân số là mù chữ, thông tin không được trao đổi, vận hành xã hội chủ yếu theo phong tục, thói quen truyền miệng và chính là từng triết lý Nho Khổng được tượng hình trong từng con chữ. Có thể nói chúng ta là một văn minh sớm về canh tác nông nghiệp nhưng là một đất nước lạc hậu về mọi mặt giống như Trung Hoa thời điểm đó so với Phương Tây.

Trong khi bắt đầu thời đại THỜI ĐẠI KHÁM PHÁ, người Bồ, người châu Âu chỉ bằng con thuyền và la bàn, ống nhòm (công cụ tiến lên từ khám phá ra mắt kính cận), và lòng quả cảm đi vào vùng tối đại dương hoàn toàn không biết – tượng trưng cho phần kiến thức chưa được tìm ra, phần ngu dốt cần phải khai sáng, từ đó có các phát kiến khoa học thực nghiệm vượt trội so với Trung Hoa và Châu Á nói chung. Thì thời điểm này người Châu Á vẫn tập trung quần cư bên các con sông, đồng bằng lúa bao la, thành lũy, xóm làng v.v. và gần như không bao giờ bận tâm đến thế giới không biết ngoài kia.

Tại sao nhà Minh Trung Hoa có công nghệ đóng tàu lớn đi biển trước Châu Âu cả trăm năm nhưng lại không tiến ra biển như người Châu Âu? Hạm đội đầu tiên của hoạn quan Trịnh Hòa năm 1405 có khoảng 300 tàu, kích thước tàu lớn gấp tới 5 lần tàu của người Châu Âu cùng thời và trở theo gần 3 vạn người đã đi tới tận Ấn Độ, Ả Rập và Đông Phi.

Câu trả lời các sử gia cho rằng người Trung Hoa thiếu tầm nhìn, sự tập trung, và trên hết là sự tò mò. Họ ra khơi để thể hiện mình, chứ không phải quan sát và học hỏi, họ đi để ban phát sự hiện diện của họ - sức mạnh của thiên triều, chứ không phải để ở lại, để nhận lại sự tuân phục và cống vật, chưa không phải để mua.

Và mong muốn làm cho người khác phải kính nể đồng nghĩa với chi phí vượt quá lợi ích, không như kẻ thám hiểm biển khơi - giới thương nhân đầu tiên của Châu Âu bị thúc đẩy bởi lòng tham lợi nhuận và niềm đam mê. Thêm nữa ở Trung Hoa thời đó đạo Khổng xếp loại Sỹ - Nông – Công – Thương, thì con buôn bị coi thường và xếp hàng chót. Còn ở Châu Âu, giới thương nhân đang ngày một gia tăng để trở thành lực lượng cho các cuộc cách mạng lật đổ quân chủ sau này.

Vì thế sau chuyến đi của Trịnh Hòa tới thời Tuyên Đức – Nhà Minh ban hành các chính sách hải cấm, giỡ bỏ thuyền đi biển để đóng lại thuyền đi sông, cấm đóng thuyền đi biển đã chính thức ngăn chặn Trung Hoa tiến ra thế giới, và thụt lùi dần do với bước tiến vũ bão của Châu Âu. Dân số nhà Minh ước tính lúc bấy giờ khoảng 160 triệu bằng cả dân số châu Âu cộng lại.

Tuy nhiên sau chuyến đi thì các cấp quan lại nhỏ hơn, binh lính đi cùng Trịnh Hòa đã có cảm hứng mở rộng buôn bán, đi tìm sự thịnh vượng tới các vùng biển xa xôi bất chấp lệnh đóng tàu đi biển của triều đình, tới định cư sinh sống trong các quốc gia Đông Nam Á sau này. Họ chính là tiền thân các lớp thương nhân, di dân người Hoa làm ăn buôn bán thành công ở ngoại quốc và nắm giữ yết hầu kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á tới tận thời hiện đại. Và sau này Singapore – hòn đảo tập trung nhiều người Hoa nhất khi dưới thời thuộc địa Anh là một trung tâm mậu dịch, tài chính, logistic của khu vực.

Phát minh – khám phá chủ đạo của đế quốc giai đoạn này để có thặng dư kinh tế là : Khám phá hàng hải, bản đồ, thiết lập tuyến thương mại buôn bán tới các quốc gia xa xôi. Kế thừa từ việc chế tác và phổ biến đồng hồ mang tới trật tự và kiểm soát công việc và đặt tiền đề cho khái niệm năng suất sơ khởi, đồng thời cải tiến kỹ thuật chế tác hàng loạt bánh răng để có những chiếc bánh răng đầu tiên cho các cỗ máy sơ khai.

Sự có mặt của đồng hồ từ các nhà thờ đã đưa các quốc gia Châu Âu có mô hình phối hợp lao động tập thể, phân công theo thời gian và quản lý năng suất tới giờ, phút, sau này là giây. Còn các nước trong khối Đông Á như chúng ta vẫn chỉ đo giờ bằng canh 1,2,3 và 12 cung giờ tý ngọ mão dậu phục vụ tâm linh, canh tác nông nghiệp. Bên cạnh đó kỹ thuật đúc chuông nhà thờ hàng loạt đặt tiền thân cho các cỗ đại bác mạnh và hiệu quả vượt trội, là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất dùng cho các cuộc xâm lấn và hủy bỏ vai trò lịch sử của tường thành kéo dài đã vài ngàn năm trước đó.

Việc tìm ra mắt kính cận không chỉ giúp nâng cao năng suất của thợ thủ công khéo tay có thể làm việc tới cuối đời, làm được những việt đòi hỏi độ tinh vi, chính xác cao hơn chỉ bằng một miếng thủy tinh mài cong 2 mặt, mà đồng thời đã mở ra các công cụ thực nghiệm quang học và phát minh ra ống nhòm giúp nhìn xa hơn, có tác dụng to lớn cho các cuộc hải hành, thiên văn và các chiến thuật quân sự mới.

Các cuộc thám hiểm hàng hải, viễn chinh, xâm lược nước ngoài luôn được gán với giá trị phẩm hạnh và giá trị đặc biệt như sự trung thành với tổ quốc, sự phụng sự giáo hội khi đi truyền giáo, và cái gọi là “ có công khai hóa” các dân tộc yếu thế hơn – bị gọi là man di. Chiến tranh luôn có cách hợp pháp hóa nguyên nhân của nó và ăn mừng các cuộc trinh phục dựa trên nền tảng, động lực đó.

Chính thức từ thế kỷ 16 này, với sự đi đầu của quốc thực dân đầu tiên thế giới : Bồ Đào Nha, có hệ thống thương thuyền, đóng tàu ngay tại các nước thuộc địa như Ấn Độ, sau này là Macao (triều đình nhà Minh cho thuê năm 1557) hình mẫu cho các quốc gia phương Tây theo sau học hỏi, sao chép để bành trướng ra thế giới.

2. Đồng tiền Peso đế quốc Tây Ban Nha thống trị thế giới 110 năm (1530-1640)

Sự vươn lên của Tây Ban Nha, cùng với Pháp, Anh các cường quốc lục địa già Châu Âu khi có quy mô diện tích, dân số lớn hơn nhiều Bồ Đào Nha dượt đuổi và sao chép được các tiến bộ hàng hải từ Bồ Đào Nha, lịch sử luôn là vậy khi các quốc gia học nhau, vượt qua bằng quy mô và cải tiến để tìm tới sự thịnh vượng. Và Tây Ban Nha đã gặp may.

Có thể nói Đế quốc Tây Ban Nha bứt phá về kinh tế chủ đạo từ một sự may mắn khi đầu tư cho chuyến đi tìm tuyến hàng hải mới, miền đất mới của Colombo năm 1492, mà trước đó đề nghị này của Colombo đề xuất trước với hoàng gia giầu có số 1 Châu Âu - Bồ Đào Nha nhưng bị từ chối. Tìm ra Châu Mỹ mở ra một thời đại khai thác, cướp bóc, xâm lược từ tân thế giới đã giúp đế quốc Tây Ban Nha với dân số gấp 8 lần, nhanh chóng soán ngôi Bồ Đào Nha, sau đó ép Bồ Đào Nha phụ thuộc chính trị trong liên minh và thành chủ nợ của nhiều nước của châu Âu.

Lúc Colombo phát hiện ra Châu Mỹ, thổ dân da đỏ ở đây gần như vẫn còn ở thời kỳ đồ đồng cộng sản nguyên thủy, không có tiền tệ, giao thương, thú nuôi như ngựa, còn chưa phát minh ra bánh xe, vũ khí thô sơ. Và các đế chế người da đỏ nhanh chóng bị kế ly gián của các nhóm người Châu Âu ít ỏi nhưng tinh ranh, bậc trên về tầm nhận thức, lợi dụng mâu thuẫn khu vực, vùng miền sắc tộc, nội bộ chia rẽ giữa các nhóm cầm quyền trong tầng lớp thống trị để soán vua, cầm gáy người đứng đầu vương triều bản địa cai quản dân chúng phục vụ cho các lợi ích của người Châu Âu.

Biện pháp này vẫn hiệu quả cho đến ngày hôm nay khi họ sử dụng cho các cuộc cách mạng mùa xuân Ả Rập hay cách mạng màu ở Ucraina thời gian gần đây biến một nước phát triển hàng đầu thời thuộc Xô Viết đi tụt lùi 2 thập niên. Hay như thời gian Pháp cai trị Việt Nam thì phân thành 3 vùng Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ. Trong khi đó các cuộc đột nhập vương triều người Inca hay Aztec người châu Âu chỉ cần với số người chỉ vài trăm người với vũ khí vượt trội hơn đã kiểm soát cuộc chơi, tạo liên minh và từng bước bẻ gãy các cuộc kháng cự.

Sự khác xa chênh lệch lớn về nhận thức – công nghệ - tổ chức xã hội, đụng độ giữa 2 nền văn minh có thể ví như 1 thảm họa người ngoài hành tinh đến trái đất, người châu Âu đến với Châu Mỹ và người bản địa gần như bị thảm họa diệt chủng ở 2 thế kỷ sau đó. Sự diệt chủng dấy lên làn sóng phản đối của các tiếng gọi lương tri, thậm chí mệnh lệnh từ các nhà nước phong kiến Châu Âu cũng không ngăn được sự khai thác triệt để, tàn sát, bắt làm nô lệ người bản địa của các binh đoàn thám hiểm - thương nhân nhằm tối ưu lợi nhuận của mình.

Có thể thấy, việc khám phá ra Tân Thế Giới của người Châu Âu không phải là sự tình cờ, người Châu Âu thời điểm này đã nắm giữ lợi thế quyết định về khả năng tiêu diệt. Tàu của họ có thể mang vũ khí tới bất kỳ nơi nào bằng kỹ thuật hằng hải mới, và tiếng pháo hạm của họ, làm kinh sợ, nỗ ám ảnh cho bất kỳ một dân tộc còn thấp kém nào.

Rõ ràng có 1 quy luật vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay là khi có sự chênh lệch, bất bình đẳng giữa các quốc gia, khi xuất hiện một nhóm đủ mạnh để đẩy các nhóm khác ra ngoài để thu lợi cao hơn, họ sẽ làm như vậy. Ngay cả khi nhà nước tiết chế chuyện xâm lược, thà các công ty và cá nhân sẽ không ngồi chờ đợi sự cho phép. Thay vì đó họ sẽ hành động vì lợi ích riêng của mình, kéo những người khác theo cùng, kể cả nhà nước (tất nhiên là những cuộc chiến mà họ đã thấy là chắc thắng và có lời).

Đó là lý do tại sao chủ nghĩa đế quốc, sự thống trị của nhóm này với nhóm khác, khối này với khối khác luôn tồn tại với chúng ta. Nó là biểu hiện về động lực sâu xa về lòng tham của con người đối lập với những cung bậc cảm xúc tốt đẹp khác song song tồn tại là sự thôi thức của lòng vị tha, sự thương xót, bác ái - Phương Tây và lòng từ bi, khoan dung, lý tưởng về nguồn cội tổ tiên, sự đoàn kết – Phương Đông.

Và đôi khi những lý tưởng đó lại đội lốt cho lòng tham, sự thôn tính, cướp bóc. Thời nay chúng ta thường chứng kiến khi họ lợi dụng những điều này để can thiệp nội bộ nước khác trên bình diện quốc tế hay tổ chức lừa đảo người khác trong cuộc sống hàng ngày ở phạm vi quốc gia.

Thế giới vẫn luôn là vậy, nơi nào còn tồn tại sự ngu dốt, thì nơi đó sẽ xuất hiện kẻ ác, kẻ cơ hội hội khai thác, trục lợi và ngự trị. Việc thay thế một nhóm bạo chúa – chính quyền này bằng một nhóm bạo chúa - chính quyền khác luôn được dân thường chào đón, vì họ vẫn hy vọng về một sự thay đổi sẽ giảm nhẹ ách áp bức của mình, viễn cảnh về một cuộc sống dễ chịu hơn, tự do hơn.

Sau khi các đế chế Aztec và Inca bị chinh phục và sau đó là các mỏ bạc khổng lồ được tìm thấy ở cả México và Peru, người nhập cư Tây Ban Nha vào tân thế giới, các khu vực của các đế chế lớn đó tăng lên và nhu cầu về hàng hóa tăng vượt xa khả năng cung cấp của Tây Ban Nha.

Vàng và bạc là kim loại chính đóng vai trò tiền tệ trong mấy ngàn năm, và đặc biệt trở lên khan hiếm trong gần suốt 300 năm trước đó do phí tổn cho các cuộc chiến tranh và thập tự chinh chống người Ả Rập tại Jerusalem. Nay Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đột nhiên ngồi trên núi vàng, bạc. Nhiều đến nỗi mà vàng bạc trở thành vật liệu làm dụng cụ sinh hoạt của thành viên Hoàng Gia, giới quý tộc, và giới nhà giầu thương nhân mới nổi.

Đế quốc chỉ tập trung vào mở rộng thuộc địa tại Châu Mỹ và khai thác tài nguyên vàng bạc, Tây Ban Nha lúc này có quá nhiều vàng bạc, phát hành tiền giấy vô tội vạ, tiêu sài hoang phí, một thời gian dài chỉ dùng tiền bạc mua hàng hóa tiêu dùng, không chú trọng đầu tư vào thương mại, sản xuất gây ra nhiều cuộc lạm phát lớn. Hàng hóa chủ yếu dựa vào nhập từ nước khác và không có tập đoàn thương mại lớn nào là nền tảng cho sự ra đời phát triển của các ngân hàng thương mại.

Thêm nữa vàng bạc trả cho các cuộc chiến, đặc biệt với các hạm đội của Hoàng Gia Anh thường xuyên cướp tàu của Tây Ban Nha & Bồ Đào Nha chở đồ cướp bóc được về từ Tân Thế Giới, đã khiến Hoàng gia Tây Ban Nha ngập trong nợ nần và phá sản ít nhất 12 lần tới năm 1597 và bước vào suy thoái kéo dài 300 năm.

Và sau này người ta đã quên mất Tây Ban Nha mới chính là quốc gia có danh hiệu “ Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Tây Ban Nha”, và nước Anh ở thế kỷ 19 thống lĩnh địa cầu đã cướp lại danh hiệu. Người Anh đã có lý lẽ đạo đức rằng khi họ cướp thuyền của “kẻ cướp từ châu Mỹ” Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thì không có tội, hiện thân cho tinh thần Robin Hood – một chủ nghĩa anh hùng của Anh.

Lạm phát vàng và bạc, đồng Peso toàn Châu Âu, các nhà đầu tư TBCN sơ khởi thời điểm đó thậm chí không mong muốn nắm giữ nhiều vàng nữa, mà họ muốn nắm giữ một phương tiện tài sản mới mà người Hà Lan sau này phát minh ra, đó chính là Cổ phiếu.

Từ câu chuyện này có thể rút ra bài học : Đồng tiền dễ kiếm không tốt cho bạn. Nó thể hiện những lợi ích ngắn hạn mà bạn sẽ phải trả giá bằng sự biến chất ngay lập tức và hối tiếc sau đó. Đồng tiền siêu cường hay một quốc gia sẽ trở lên mất giá, và số quốc gia khác nắm giữ nó sẽ ít đi, nếu nó in vô tội vạ để trả thanh toán cho các khoản nợ công hay tài trợ khổng lồ.

Đọc đến đây các bạn có thấy giống như Mỹ hiện nay không? Ở một số điểm là FED cũng in tiền vô tội vạ sau mỗi lần khủng hoảng kinh tế, giá trị đồng USD tương quan với vàng có thể thấy : 80USD/ouce năm 1968 tới thời điểm hiện nay là 1750USD/ouce. Mỹ sẽ phải in tiền bao lâu để cứu nền kinh tế, phân phát cho dân tiêu dùng, giữ ổn định an sinh xã hội? Hàng hóa tiêu dùng chủ yếu cũng nhập từ nước khác, và hầu hết quan hệ thương mại là nhập siêu, Mỹ sẽ trụ được bao lâu?

Năm 1581 Hà Lan từ một khu vực giầu có của Tây Ban Nha, thời điểm đó với phần lớn người theo đạo Tin Lành, thương nhân các thị thành mới, giành độc lập tách ra khỏi Tây Ban Nha với phần lớn là công giáo La Mã thành một quốc gia độc lập tí hon ở Châu Âu dân số chỉ có 1 triệu người.

Và để đáp ứng nhu cầu định cư, giao thương, tiêu thụ tăng đột biến của không chỉ người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tại Tân Thế Giới (và cả một sai lần nghiêm trọng nữa của Tây Ban Nha… Chúng ta tìm hiểu ở phần tiếp theo nhé!). Người Hà Lan đã tận dụng nắm bắt cơ hội gia tăng tần suất đi lại nhờ một ngành kinh doanh mới chớp lấy cơ hội điền vào khoảng trống chuỗi cung ứng có quy mô toàn cầu đầu tiên trên thế giới.

Đó là buôn nô lệ từ châu Phi cung cấp cho công cuộc khai thác Tân Thế Giới. Để từ đó có lợi nhuận phát triển hạm đội với các đội tàu lớn độc quyền các tuyến vận chuyển thương mại chiếm hầu hết các tuyến hàng hải quan trọng không chỉ sang Châu Mỹ mà còn sang cả khu vực Ấn Độ và Trung Hoa. Người Hà Lan đã cùng các hạm đội Châu Âu giờ đây có thể thiết lập vị trí tại bất kỳ nơi nào trên bề mặt địa cầu trong tầm bắn của pháo hạm. Và hình ảnh những người nô lệ bị nhốt như gia cầm vật nuôi, bị chết tới 1/3 trên hải hành tới Tân thế giới như một mảng xám đầy máu, góp phần tích lũy tư bản cho các ông chủ phương Tây.

Tình hình Trung Quốc và Việt Nam thời gian này

Thời gian này tương ứng ở Trung Quốc vẫn thuộc giai đoạn Nhà Minh (1368-1662) như đã nói ở phần trước họ không bận tâm tới sức mạnh của phương Tây và vẫn ngăn sông cấm chợ buôn bán với phương Tây.

Năm 1621 Trong thời kỳ rực rỡ của nhà Minh các thương thuyền Bồ Đào Nha đã cập cảng Macau, để lấy lòng một quốc gia lớn nhằm mở tuyến hàng hải buôn bán, người Bồ Đào Nha đã dâng bốn khẩu đại bác uy lực và đồng hồ cho triều đình. Nhưng triều đình Trung Hoa nghĩ mình là trung tâm vũ trụ, xung quanh họ chỉ toàn dân tộc thấp kém hơn bị hấp dẫn bởi ánh sáng rực rỡ và vươn tới họ để có ánh sáng, quy phục và triều cống để đạt hoặc duy trì vị thế nước chư hầu.

Vì thế họ là thầy thiên hạ đi ban phát, khai sáng dân tộc khác, những thứ như đồng hồ của Phương Tây chỉ như đồ chơi thưởng lãm, và 4 khẩu đại bác cũng như thứ vô dụng đâu cần đến. Và họ nghĩ đâu có ai dám chiếm Trung Quốc, thuốc súng gây nổ người Trung Quốc phát minh trước Châu Âu cả 500 năm đâu có gì là lạ?

Tất nhiên triều đình vẫn thuê người Bồ học cách đúc súng thần công, hỏa mai nhưng vì kỹ thuật không thể bằng chính quốc nên hiệu quả kém, nguy hiểm khi sử dụng và chỉ làm “đồ chơi” phục vụ lễ hội, hiếm khi sử dụng khi so với lợi thế biển người có từ ngàn năm của Trung Quốc.

Còn ở Việt Nam chúng ta phong kiến giai đoạn này là thời Hậu Lê 1533-1789: Lê Trung Hưng. Vua Lê đã mất thực quyền, thời nhà Mạc & Trịnh Nguyễn phân tranh. Cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc” để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê.

Vì liên miên đánh nhau qua lại nên chúa Nguyễn liên tục mở rộng xuống phương nam kéo từ Nghệ An xuống tới Phú Yên. Trước đó Nhà Trần – Lý của ta trở về trước có lãnh thổ chỉ tới Nghệ An, và chúng ta thuộc khối văn hóa kinh tế Đông Á bao bồm Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc và Việt Nam.

Sự kháng cự của Chúa Nguyễn và tìm cách tồn tại trước sức ép quân sự từ đàng Ngoài, đàng Trong bằng cách mở rộng, xâm lấn lãnh thổ của người Chăm, đặt tiền đề mở mang của nhà Nguyễn sau này kéo tới xuống Sài Gòn Gia Định định hình lên nước Việt Nam hôm nay, đã mở rộng cái đuôi của chúng ta xuống vị trí trọng yếu của Đông Nam Á, và có vị trí chiến lược kết nối khối Đông Á và Đông Nam Á.

Và Alexandre de Rhodes một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã đến Việt Nam thời gian này năm 1627 bằng mục đích truyền giáo đơn giản, nhanh hơn bằng chính ngôn ngữ tiếng Việt ông đã phát minh ra ký âm trên nền chữ Latin. Sau này ông cho in cuốn Từ điển Việt - Bồ - Latin cho các nhà truyền giáo Châu Âu sử dụng, là tiền thân của chữ Quốc Ngữ do ông sáng tạo cho người Việt sử dụng và hoàn thiện đến ngày hôm nay.

Chính chữ quốc ngữ và vị thế địa chính trị độc đáo đã giúp Việt Nam chúng ta hôm nay có vị thế là vạch nối về tiếp cận văn hóa, tri thức, tổ chức sản xuất (chuỗi cung ứng mở rộng) giữa văn minh Phương Đông và Phương Tây khi nắm lấy cơ hội lịch sử để điền vào khoảng trống của khe nứt được tạo ra khi hai nền văn minh này đang có những đối đầu, cạnh tranh ảnh hưởng trong thế kỷ 21.

Phát minh – khám phá – chiến lược chủ đạo của đế quốc Tây Ban Nha giai đoạn này để có thặng dư kinh tế bứt lên thành kẻ thống trị là : Khám phá và khai thác thuộc địa châu Mỹ đã giúp cho đồng Peso thống trị làm đồng tiền thanh toán suốt 110 năm.

Gia tộc Medici tại Florence – Ý năm 1537 đã xây dựng những ngân hàng thương mại đầu tiên của thế giới tư bản bằng các hoạt động cho vay thông qua các hối phiếu cấp vốn thương mại, hỗ trợ cho các cuộc hải hành, và từ đây tiền tệ bao gồm tiền vàng bạc trong lưu thông và các hối phiếu – giấy xác nhận vay nợ tức TÍN DỤNG đã trở thành một loại tiền tệ mới tồn tại trên sổ ghi cái ghi chép của ngân hàng.

Hệ thống ngân hàng Ý đã tạo ra nền tảng vay và cho vay rộng lớn hơn, phát triển mạng lưới và quy mô quan hệ giữa con nợ và chủ nợ, mở rộng cung tiền hỗ trợ kích thích thương mại, sản xuất v.v. đã trở thành hình mẫu cho các quốc gia Châu Âu học hỏi để trở thành các quốc gia giầu có trong các thế kỷ sau như Thụy Điển, Anh, Pháp v.v. đặc biệt là Hà Lan ở giai đoạn ngay kế sau đây.

Một tầng lớp thương nhân, thợ thủ công tự do buôn bán giữa các trung tâm, lãnh địa đã dần tập trung thành các thành thị, sau này gọi là công xã sầm uất về kinh tế, tạo sức hút giải phóng nông nô khỏi các lãnh chúa. Dịch chuyển lao động tới các ngành mới nhiều lợi ích hơn trong thương mại, sản xuất, phá vỡ nền giáo dục gắn với giáo hội hình thành các trường đại học cận đại Phương Tây đầu tiên tạo động lực mạnh mẽ cho THỜI KỲ KHAI SÁNG. Đã dẫn các phát kiến mới trong sản xuất hàng tiêu dùng như hàng dệt len, đồ gia dụng, khai thác than v.v. thúc đẩy phân công lao động, khuyến khích phát minh các thiết bị tiết kiệm lao động từ máy móc phóng to ra từ chiếc đồng hồ nhà thờ.

3. Đồng tiền Guiders đế quốc Hà Lan thống trị 80 năm (1640-1720)

Sự suy yếu của Tây Ban Nha như đã phân tích ở bài trước là sự ngạo nghễ của kẻ thống trị siêu cường mặt biển cùng với thuộc địa rộng lớn trải từ Đông qua Tây của địa cầu, dùng tiền mua cả thế giới chứ không đầu tư sản xuất thương mại, và danh hiệu mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc chính là của Tây Ban Nha mà nước Anh sau này khi vươn lên vị trí số một mãi sau này ở thế kỷ 19 kế thừa lại. Người Anh đã thực thi chiến lược “Nếu không kiếm tiền được từ kinh doanh như người Hà Lan thì hãy cướp từ những người làm ra nó nhưng yếu hơn”.

Anh và Pháp bước sau Tây Ban Nha cũng khai thác Tân Thế Giới, nhưng vì chậm chân hơn vì thế đã tập trung ở Bắc Mỹ, nơi mà thảo nguyên bao la phù hợp trồng trọt nông nghiệp, còn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chiếm hết vùng Nam và Trung Mỹ tập trung nhiều kho báu. Giới công dân siêu cường Tây Ban Nha – chủ các chuỗi mỏ vàng, bạc, in tiền vô tận hiện thời này cười mỉa những chàng nông dân Anh Pháp tay lấm chân bùn khai thác đồng cỏ của Bắc Mỹ bán lại cho Tây Ban Nha tiêu dùng.

Bối cảnh lịch sử giai đoạn này cũng giống như hiện nay giới chủ tài chính FED và phố Wall có quyền năng in Dollar và quy định chuẩn mực tài chính toàn cầu, ăn lợi nhuận lớn trên tỷ suất đầu tư cười mỉa công việc lao công, công xưởng thế giới ít lợi nhuận của Trung Quốc.

Có một đặc điểm lịch sử là sự di cư tới Bắc Mỹ chủ yếu là từ Anh, Pháp, và các quốc gia Bắc Âu chủ yếu tôn giáo Tin lành cởi mở, nhiều phát kiến khoa học hơn Kito hữu, thường mang theo cả đại gia đình đi khai khoang, làm nông trồng mía đường, công nghiệp sơ khởi nhà máy mía đường (đường lúc này là có giá nhất) và bắt đầu trồng cây bông lấy giống từ Ấn Độ v.v.. Nên vì vậy vẫn giữ được truyền thống các cộng đồng như từ Châu Âu làm nền tảng xương sống cho sự ra đời của Mỹ và Canada sau này có nền văn minh dân sự và kinh tế ưu thế vượt chội.

Còn ở Nam Mỹ thì Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha sang Tân Thế Giới thường chỉ là đàn ông đi tìm kho báu, sở hữu kho báu, vì thế hôn phối với hậu cung chục cô vợ bản địa, nô lệ da đen. Kết quả là người Nam Mỹ về sau có màu da hòa trộn đặc trưng khác với Bắc Mỹ vì đa phần đều là người lai Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với thủy tổ người anh điêng, châu Phi.

Thêm một sai lầm của Tây Ban Nha, sự giầu có dẫn đến nhiều phép tắc, Kito hữu Roma cuồng tín và bất khoan dung, cái ngông cuồng của kẻ mạnh khi đứng ở đỉnh cao, đã trục xuất người Do Thái ra khỏi lãnh thổ cả liên minh, bao gồm Bồ Đào Nha năm 1492, những người phần đông làm tài chính – ngân hàng sơ khai. Giáo hội Kito Roma và Tây Ban Nha thiêu chết Bruo năm 1600, phản bác Galieo vì những phát kiến khoa học mới trong thiên văn đã làm các nhà khoa học Châu Âu chuyển tới các nước có sự khoan dung, cởi mở hơn.

Và người Hà Lan có tiếng khoan dung vì sống qua giai đoạn chịu nhiều áp bức tiến hành cuộc chiến tranh 80 năm giành độc lập từ đế quốc Tây Ban Nha, đã tiếp nhận sự dịch chuyển của khoa học, dòng tiền vào nước mình khi chớp lấy cơ hội từ sai lầm của đế quốc lân bang .Các bạn đọc tới đây thấy có nét nào giống Việt Nam ta hiện tại không?, có thể thấy những nét tương đồng khi chúng ta đang cố gắng tiếp cận dòng dịch chuyển vốn từ cả Mỹ và Trung Quốc.

Trong lúc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha sa lầy vào các cuộc chiến tranh chống lại hải quân Hoàng Gia Anh nhằm bảo bệ các chuyến tàu chở châu báu chở về từ Tân thế giới - “nỗi nhục trong quá khứ” của hải quân hoàng gia Anh đã từng một thời gian dài làm cướp biển, là cảm hứng cho chuỗi tác phẩm văn học, điện ảnh Cướp biển Caribe.

Thì Hà Lan tranh thủ điền vào chỗ trống trong chuỗi cung ứng, thương mại hàng hải quốc tế, đồng thời tiếp nhận người Do thái có kinh nghiệm làm cho vay lấy lãi từ thời cổ đại, đã biến Hà Lan thành bậc thầy tín dụng thương mại và tài chính quốc tế. Và nhờ những phát kiến cơ chế hùn tài chính tinh vi nhất thông qua phát kiến công ty cổ phẩn, thị trường cổ phiếu hỗ trợ phát triển các tuyến thương mại toàn cầu, và Amsterdam đóng một vai trò trung tâm thương mại, tài chính, logistic quốc tế như cơ hội của Singapore sau này ở Châu Á.

Đế quốc Hà Lan phát triển thành một trong các cường quốc hàng hải và kinh tế với khoa học, quân sự và nghệ thuật nhất thế giới thời đó. Đến năm 1650, Hà Lan sở hữu 16.000 thương thuyền. Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Tây Ấn Hà Lan thành lập các thuộc địa và trạm mậu dịch trên khắp thế giới.

Người Hà Lan định cư tại Bắc Mỹ từ khi thành lập Tân Amsterdam tại phần phía nam của đảo Manhattan vào năm 1614 làm trung tâm thương mại tài chính là nơi tọa lạc phố Wall hiện nay. Lập thuộc địa Đông Ấn châu Á ở Indonesia và trạm mậu dịch với phương Tây duy nhất tại Nhật Bản.

Tình hình Trung Quốc và Việt Nam thời gian này

Giai đoạn này ở Trung Quốc là cuối thời nhà Minh bị chia thành nhiều nước nhỏ, và nước dòng dõi vua Minh hiệu là Nam Minh 1644-1662 đóng ở phía Nam do phía bắc bao gồm thủ đô Bắc Kinh bị Lý Tự Thành khởi nghĩa lật đổ lập lên nhà Đại Thuận. Chính vì Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ suy yếu nên dân tộc Mãn ở Phía Bắc chiếm ngay Đại Thuận lập lên nhà Thanh năm 1644, và thôn tính dần các nước nhỏ khác bao gồm cả Nam Minh lập lên nhà Thanh 1644-1912.

Sau đó nhà Thanh bị người Hán đồng hóa ngược cũng mang nguyên một tư duy như vậy với thói tự cao tự đại thờ ơ với “đồ chơi” phương Tây, và nước Trung Quốc đất rộng người đông, không bao giờ thiếu binh lính. Khác với suy nghĩ của người Châu Âu : súng đại bác và hỏa mai là công cụ của thần chết, và nó chính là quyền lực.

Đã 500 năm kể từ đó tới nay, quốc gia nào cầm hải đội thần chết trên biển, nước đó cầm trịch quyền lực chính của toàn cầu. Mỹ hiện nay vẫn duy trì một hải đội 11 tàu sân bay, trong khi các nước ngay kế chỉ có 1 tàu ở dạng tương đương. Và duy nhất Trung Quốc có có kế hoạch và đang triển khai đóng tổng cộng 5 tàu sân bay.

Thời kỳ này chúng ta vẫn trong giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh 1553-1778, khác với Trung Hoa luôn nghĩ là kẻ trên, thì chúng ta có sự học hỏi tiếp nhận chung một nền văn hóa Đông Á từ Trung Hoa, nhóm biết chữ chỉ là thiểu số. Chữ viết, kiến thức được cho là ẩn dụ cao siêu, tù mù khó hiểu, được phổ biến hạn hẹp để dự các cuộc thi tuyển chọn làm quan. Vậy nên con đường mong làm quan để vươn đến sự thịnh vượng giầu có ăn sâu vào văn hóa người Việt. Và các cuộc thi cần trí nhớ tốt hơn là trí tuệ đã làm người Việt cũng như Trung Hoa không có khái niệm về khoa học trừu tượng.

Vì vậy, khác với Phương Tây thời kỳ này đã hình thành lên lớp thương nhân, tư bản sơ khởi, đã có khái niệm trừu tượng cách mạng vĩ đại như : công ty, thị trường, vốn vay, cổ phiếu v.v thì người Việt chúng ta chỉ có lòng can đảm, tâm tính đa phần tốt bụng hiếu khách, khéo tay, thích cải tiến, thích giúp nhau trong hoạn nạn, đồng tâm hiệp lực khi cùng chống lại ngoại bang. Đây có thể là nền tảng vượt trội cho chúng ta phát triển nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế sẻ chia và dịch vụ quốc tế của thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên tiểu thủ công nghiệp và thương mại của người Việt ngay từ thời kỳ này hoàn toàn thua kém Trung Hoa, vì từ lâu Trung Hoa đã có nhiều thành phố tập trung cả triệu người kinh thương qua lại lẫn nhau, còn KẺ CHỢ - kinh thành Thăng Long đông nhất chỉ có khoảng hai mươi nghìn người.

Năm 1693, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tiến chiếm và chính thức sáp nhập phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành lập trấn Thuận Thành nay là vùng đất Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay. Năm 1708, Mạc Cửu người Hoa bộ tướng nhà Minh, bất tuân nhà Thanh, cùng gia quyến, binh lính khai phá vùng đất Hà Tiên, Phú Quốc - Kiên Giang của Chân Lạp xin nội thuộc chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong chức Tổng binh cai quản.

Đấy là lý do tại sao người Minh Hương - quê hương gốc Minh gốc Hoa sinh sống và lạc nghiệp ở các tỉnh Miền Tây tới Chợ Lớn - Sài Gòn, Đồng Nai vẫn còn tới ngày nay hình thành nên dân tộc thiểu số người Hoa ở Việt Nam. Tiếp đó chúa Nguyễn kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan như Côn Đảo, Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Phát minh – khám phá chủ đạo của đế quốc Hà Lan giai đoạn này để có thặng dư kinh tế bứt lên thành kẻ thống trị như đã nói ở trên chính là Thị trường chứng khoán và Công nghệ quan trọng nhất của Châu Âu thời kỳ này là kỹ thuật in trang bằng con chữ di động bán cơ học bằng máy đã trở lên phổ biến, in nhanh hơn và bền hơn có kiểu chữ và phông chữ, chất lượng cao và giá cả đã rất rẻ khiến cho việc trao đổi lan truyền thông tin, kiến thức tới phần đông dân chúng và khiến cho việc tạo ra thặng dư nghiên cứu khoa học thực nghiệm vượt trội hẳn với Châu Á. Có thể nói công nghệ in ấn lan tỏa tri thức lúc bấy giờ có tác động to lớn tới nền văn minh như công nghệ Internet hiện nay của TK21.

Có thể nói nhiều phát kiến của kinh tế tư bản hiện đại khởi phát từ Hà Lan và biến quốc gia này thành nhà nước tư bản hoàn thiện đầu tiên trên thế giới. Tại châu Âu thời cận đại, giai đoạn này Hà Lan có thành phố mậu dịch giàu có nhất tại Amsterdam và sàn chứng khoán toàn thời gian đầu tiên, phát hành cổ phiếu cho giới quý tộc, thương nhân giầu có tài trợ cho các cuộc viễn chinh của công ty Đông Ấn, Tây Ấn, chiếm thuộc địa, hay thương mại. Cầm cổ phiếu của công ty Đông Ấn VOC còn có giá trị hơn cả vàng bạc mà người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha mang về từ Châu Mỹ.

Tại Hà Lan đã xuất hiện các quỹ bảo hiểm và hưu trí, cũng như các hiện tượng kinh tế như chu kỳ bùng nổ-phá sản, bong bóng lạm phát tài sản, đã có hiện tượng đầu cơ giá cổ phiếu, mà ngày nay chúng ta gọi là hành vi đội lái. Một thị trường chứng khoán sôi động thúc đẩy sản xuất hàng hóa, phân chia lao động chuyên sâu và quản lý tư liệu sản xuất triệt để đã tạo tiền đề cho Adam Smith năm 1776 viết bộ sách “Của cải các dân tộc” là cơ sở lý luận đầu tiên của CNTB hiện đại về bản chất con người, chủ nghĩa tự do, thương mại tự do.

Đồng tiền đế quốc Hà Lan thống trị 80 năm, tuy nhiên sau đó do diện tích dân số quá nhỏ đồng thời duy trì chiến tranh với cả Pháp, Anh nên suy yếu dần. Và nước Pháp đông dân nhất Châu Âu từng bước vươn lên khẳng định vị trí siêu cường, làm suy yếu Anh trong chiến tranh chống lại tuyên bố độc lập thành lập quốc gia cộng hòa đầu tiên - Mỹ 1775–1783, tất nhiên với sự hỗ trợ của Pháp thì nước Pháp soán ngôi đế quốc Hà Lan về tài chính, thương mại và các ngân hàng lớn thuộc hoàng gia.

4. Đồng tiền Franc đế quốc Pháp – 95 năm (1720-1815)

Pháp cũng là một cường quốc lâu đời ở Châu Âu, và Đế quốc thực dân Pháp thực sự bắt đầu năm 1605 cũng bắt đầu khai thác thuộc địa tại Bắc Mỹ - Tân Thế Giới gọi là Tân Pháp chính là khu vực Canada ngày nay với phần đông người dân nói tiếng Pháp, tiếp sau đó ở khu vực béo bở hơn là Tây Ấn, một số nước Châu Phi.

Khi Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha tập trung chống các đội quân “cướp biển” của hải quân hoàng gia Anh, sự suy yếu của Hà Lan trước cả hải quân Anh và Pháp, thì nước Pháp nhân cơ hội này đã vươn lên vị trí siêu cường Châu Âu. Trong khoảng thời gian từ năm 1720 đến năm 1815, nước Pháp đóng vai trò quan trọng trên cục diện chính trị quốc tế, ảnh hưởng sâu sắc tới các nước khác như Hà Lan, Ireland, Ba Lan, Ý,... và là trung tâm của các phong trào trí thức.

Khoa học của nước Pháp đã dẫn đầu thế giới. Phần lớn các tác phẩm văn hóa và chính trị đều được viết bằng tiếng Pháp, và được các nhà trí thức thuộc nhiều quốc gia tìm đọc và các ý tưởng, sáng kiến, phát minh của người Pháp được các dân tộc khác trên thế giới theo dõi và bắt chước. Tiếng Pháp trở thành một ngôn ngữ quốc tế, dùng cho các nhà trí thức và giới quý tộc của nhiều quốc gia tại châu Âu.

Nước Pháp với dân số 24 triệu người vào giữa thế kỷ XVIII, là miền đất giàu có và đông dân bậc nhất Châu Âu bấy giờ dưới quyền một chính phủ trung ương, trong khi nước Đức láng giềng còn bị chia rẽ, đế quốc Nga mới chỉ bắt đầu phát triển, thậm chí tổng dân số của cả nước Anh và Scotland cũng chỉ khoảng 10 triệu người. Kinh đô của nước Pháp, Paris, tuy nhỏ hơn so với thành phố London về diện tích, nhưng lại rộng gấp hai lần các thành phố Viên và Amsterdam. Tiền vàng của nước Pháp được lưu hành khắp châu Âu và chiếm một nửa số lượng ngoại tệ giao dịch, trong khi lượng hàng hóa xuất cảng từ Pháp qua các nước châu Âu khác lớn hơn nhiều lượng hàng hóa từ nước Anh.

Đến cuối thế kỉ XVIII, nước Pháp vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế (đứng đầu là vua Louis XVI). Xã hội chia thành ba đẳng cấp: Tăng lữ, Quý tộc và Đẳng cấp thứ ba. Hai đẳng cấp đầu tuy chỉ chiếm số ít trong dân cư, nhưng được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi, không phải nộp thuế, có nhiều bổng lộc và giữ những chức vụ cao trong chính quyền, quân đội và Giáo hội, và đặc biệt nắm giữ phần lớn tài sản của đất nước.

Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều giai cấp và tầng lớp: tư sản mới nổi, nông dân, bình dân thành thị. Họ phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ, song không có quyền lợi chính trị và bị lệ thuộc vào những đẳng cấp có đặc quyền. Và như vậy cuộc cách mạng giành độc lập của Mỹ 1776 và cuộc cách mạng tại Pháp 1789–1799 lật đổ vua Louis XVII lãnh đạo bởi Tư sản đã mở đầu cho CNTB hiện đại.

Có thể thấy sự lo lắng của những người nông dân, người làm công ăn lương, và các cá nhân ở mọi tầng lớp đang chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng của thời đại Khai sáng do các nhà Tư sản mới nổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và lý luận triết học, in ấn – công cụ truyền thông sơ khai. Xoáy vào tình trạng nợ quốc gia không thể kiểm soát nổi, có nguyên nhân từ việc tăng thêm gánh nặng của một hệ thống thuế rất lớn, đã hội tụ sức mạnh để giành quyền lực từ giới quý tộc hoàng gia, tăng lữ vốn đã cầm quyền liên tục hơn ngàn năm trước đó.

Điều này chúng ta có thể thấy tương tự một mối nguy âm ỷ mà trong năm 2021 Mỹ muốn làm một cuộc cải cách toàn diện về thuế để có thể giảm núi nợ công hậu Covid, và cân bằng hố sâu tài sản, giảm mâu thuẫn xã hội với “giới tăng nữ” BigTech? liệu Mỹ có thành công?

Đỉnh cao nổi tiếng nhất của đế chế Pháp thời kỳ này là Napoléon đã tự phong làm Hoàng Đế của nước Pháp năm 1804 sau cuộc cách mạng Pháp và đã tạo ra một đế quốc trải rộng khắp miền tây và miền trung của châu Âu trong 16 năm tất nhiên với nhiều thuộc địa trên cả thế giới từ Tân Thế Giới, Châu Phi và Ấn Độ v.v..

Napoléon và chính quyền mới đã nghĩ ra rất nhiều cải cách hữu ích kể cả việc thiết lập nên một chính quyền trung ương vững mạnh, hữu hiệu, đã duyệt xét lại và tổ chức lại hệ thống luật pháp của nước Pháp thành bộ luật hữu lý. Nhiều công trình cải tiến hành chính của Napoléon vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay trong các cơ chế chính quyền của nước Pháp và tại các quốc gia theo ảnh hưởng và văn minh Pháp trong đó tất nhiên cả Việt Nam ta. Tới khi Napoléon thua trong trận Waterloo nổi tiếng năm 1815 trước liên quân Anh – Phổ (tiền thân nước Đức) thì nước Pháp mất vị trí siêu cường vào tay nước Anh.

Tình hình tại Trung Quốc và Việt Nam thời kỳ này

Trung Quốc thời kỳ này thuộc đã thời kỳ nhà Thanh kéo dài 250 năm (1644-1912) có nguồn gốc Mãn Châu. Một tộc du mục nhỏ khoảng 1 triệu người đã thu phục một quốc gia hàng trăm triệu người, tý hon như người Hà Lan có thắng lợi thần kỳ giành độc lập khỏi đại quốc Tây Ban Nha vậy. Như vậy có thể nói đây là giai đoạn củng cố quyền lực và bị đồng hóa ngược của dân tộc Mãn kém văn minh hơn vào dân tộc Hán. Một nền khoa khọc có nhiều phát kiến sớm đã trở lên tụt hậu tới mức thất truyền nhiều thành tựu trong suốt thế kỷ 17-18.

Năm 1793 Khi hoàng đế Càn Long lần đầu nhận quà biếu mừng sinh nhật của nước Anh nhưng coi là cống vật vẫn như thói ngạo mạn thường thấy của các hoàng đế Trung Hoa khi tiếp xúc với các đoàn sứ giả phương Tây đã viết : “Giờ đây công lao và đức hạnh của Trẫm hẳn đã tới bờ biền xa xôi của họ, nước Anh đã phải tỏ lòng kính trọng, những quà tặng là thiết bị lạ của họ thật tầm thường, nhưng Trẫm vẫn hào phóng gia ân cho họ”.

Triều đình và người Trung Hoa hoàn toàn thờ ơ với sức mạnh phương Tây là tàu biển, đại bác, súng, đồng hồ, máy in v.v. ngoại trừ người Nhật và…cướp biển. Và Trung Hoa đã hoàn toàn bị bỏ lại phía sau với thái độ kiêu mạn phủ nhận tất cả những cái mới từ bên ngoài.

Trung Hoa và Việt Nam bị ảnh hưởng bởi giáo lý Nho Gia sâu sắc, lễ giáo tổ chức xã hội hoàn toàn tuân thủ những giá trị cổ xưa, ngăn cản xuất hiện những tư tưởng mới từ trong trứng nước bởi các mưu đồ triều chính. Nơi đổi mới được coi là nhứng hệ lụy, nguy cơ gây bất ổn trật tự cũ và quản lý xã hội. Không có đề xuất nào mà không bị ngáng đường, không có gì mới lạ mà không gieo rắc lỗi lo sợ cho các lợi ích cố hữu. Hơn nữa, ở tất cả các cấp, nỗi sợ bị khiển trách (hay tệ hơn) lớn hơn cả triển vọng được khen thưởng. Một ý tưởng tốt mang lại vẻ vang cho cấp trên; còn một sai lầm, lúc nào cũng vậy luôn là nỗi lầm của cấp dưới.

Việc bóp nghẹt động cơ và nuôi dưỡng sự giả dối là một điểm yếu đặc trưng của bộ máy quan liêu lớn kiểu triều đình phong kiến, hay giai đoạn áp dụng chủ nghĩa cào bằng Trung Hoa và Việt Nam. Các quan, các đồng nghiệp,người đồng chí hướng trên danh nghĩa, đáng lẽ cùng hợp tác, nhưng thực ra lại là đối thủ. Họ cạnh trạnh nội bộ không bằng các ý tưởng của môi trường tự do tạo ra tiến bộ mà trong một thế giới khép kín của thủ đoạn và mưu mẹo để loại bỏ nhau, bất chấp sự ảnh hưởng hay phá bỏ các mục tiêu chung vì đất nước.

Cùng với Nhật Bản, Triều Tiên ở giai đoạn này chúng ta đã tạo thành 1 trong những dân tộc châu Á đông dân nhất (ngoại trừ Trung Quốc), diện tích lớn, Việt Nam nếu gộp cả đàng Trong với Đàng Ngoài đã kéo dài tới Hà Tiên, tiếp giáp Campuchia. Có thể nói văn minh Đông Á đứng đầu là Trung Quốc thì có Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên (nay là Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên) có mô hình tổ chức nhà nước kiểu Trung Hoa và nền tảng văn hóa kế thừa xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử tập quyền trung ương tổ chức xã hội, sản xuất, quân sự chặt chẽ hơn các nước Đông Nam Á thời đó như Thái, Lào, Campuchia, Mã Lai, In đô.

Thời kỳ này Việt Nam chúng ta tạm coi như là thuộc nhà Tây Sơn (1778-1802) với sự chuyển giao nhà Lê cho nhà Tây Sơn với việc tướng Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân năm 1786 để hợp thức hóa cho Nguyễn Huệ dẫn quân ra bắc lấy cớ phù Lê diệt Trịnh. Sau khi diệt được chúa Trịnh, đại thắng quân Thanh năm 1789 đại Đống Đa – Thăng Long (do Lê Chiêu Thống xin vua Càn Long xuất quân can thiệp), lên ngôi Hoàng đế thì Quang Trung và nhà Tây Sơn tiến hành truy kích nhằm tiêu diệt chúa Nguyễn Ánh.

Trong cuộc chiến chống lại triều đình Tây Sơn, Nguyễn Ánh giành được nhiều sự giúp đỡ của người Pháp, đặc biệt là giám mục Pigneau de Béhaine để củng cố quân đội và tạo cho mình một thế đứng vững vàng. Vua Quang Trung của Tây Sơn đột ngột qua đời năm 1792, nhà Tây Sơn rơi vào cảnh "cốt nhục tương tàn", triều đình nhanh chóng suy yếu và mất lòng dân.

Nguyễn Ánh ra sức tấn công và đến năm 1802 đánh bại hoàn toàn Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đại nhà Nguyễn. Sau khi diệt xong nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn vẫn có quan hệ tốt với Pháp, đặc biệt, những người Pháp như Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, nhưng lại hoàn toàn thờ ơ với việc cách tân dân tộc, và học hỏi các kỹ thuật hay mở mang bang giao buôn bán với các nước phương Tây.

Ngày nay, có nhiều người theo trường phái lạc quan cho rằng nếu như Quang Trung không chết thì Việt Nam có thể lấy lại lưỡng Quảng (hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông của Trung Quốc), hoặc có thể tự cường quân sự và bằng khả năng thiên tài quân sự có thể chống được xâm lăng của Pháp, không nhu nhược như nhà Nguyễn.

Thực tế là nếu nhìn nhận lại lịch sử một cách khách quan thì Nhà Tây Sơn giai đoạn này mạnh chính là có xuất thân đất võ Bình Định, khả năng quân sự tài ba, có giao thương với nhiều thương thuyền phương Tây, buôn bán với cả các lực lượng cướp biển như Trịnh Nhất (chồng Trịnh Nhất Tẩu – nữ cướp biến khét tiếng nhất thời kỳ này), mua trang bị nhiều loại vũ khí mới. Và xuất xứ nhà Tây Sơn đã từng là cướp biển tới nay vẫn còn gây tranh cãi. Lịch sử cũng ghi chép súng nhà Tây Sơn nhỏ gọn uy lực mạnh có thể đặt trên lưng voi, đó chính là những vũ khí mới của phương Tây.

Giai đoạn này cướp biển Trung Hoa và Việt Nam trang bị còn tốt hơn thủy binh của triều đình nhà Thanh (Trung Hoa), vua Lê hay của chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vì họ giao thương với Phương Tây, còn chính quyền phong kiến thì đóng cửa, ngăn chặn thông thương buôn bán. Tại Việt Nam chỉ có hai thương điếm phương Tây (văn phòng & nhà kho) đã được dựng lên ở Phố Hiến (Hưng Yên): thương điếm Công ty Đông Ấn Hà Lan (1637-1700) và thương điếm Anh (1672-1683).

Và có thể thấy trên bình diện nội lực quốc gia thì nếu Tây Sơn thống nhất đất nước thì có 2 khả năng : khả năng thứ nhất như vốn có, có thể sẽ mở rộng bang giao, buôn bán, mở cửa hơn với Phương Tây và kế tiếp con đường như một nước Nhật đổi mới thời Minh Trị. Còn khả năng thứ 2, nếu đối đầu, cho dù có chuẩn bị thật tốt thì cũng vẫn bị Phương Tây khuất phục, vì họ đã có sự vượt trội về chênh lệch tiến bộ của 2 nền văn minh.

Phát minh – khám phá – chiến lược chủ đạo của đế quốc Pháp giai đoạn này để có thặng dư kinh tế bứt lên thành kẻ thống trị như đã nói ở trên chính là Pháp đã nhân đà Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha suy yếu khi chiến tranh với Anh. Pháp nhân cơ hội làm suy yếu Anh bằng cách hỗ trợ Mỹ giành độc lập từ Anh.

Ngành ngân hàng Phương Tây đã phát triển đột phá ở giai đoạn này để huy động vốn cho các cuộc chiến lớn. Khi người Hà Lan chuyển từ tự vệ sang bành trướng đế quốc thì núi nợ của họ cũng ngày một chất cao hơn. Ai ở đỉnh cao rồi cũng phải đi xuống, chiến tranh chỉ có thể xảy ra nếu chính phủ huy động được tiền để thanh toán cho nó, và thị trường nợ chính phủ - trái phiếu chính phủ là nơi huy động chủ đạo.

Nathan Rothschild gốc Do Thái, con trai của một người buôn đồ cổ và môi giới hối phiếu ở Frankfurt đã buôn lậu vàng kết hợp buôn hàng dệt qua lại từ Đức tới Anh, tới năm 1811 mới bắt đầu kinh doanh ngân hàng tại London. Và trở thành cánh tay nối dài cho hoàng gia Anh vận chuyển vàng lậu trả tiền cho đồng mình và lính đánh thuê trên toàn châu Âu chống lại nước Pháp – Napoléon, đồng thời là nhà môi giới phát hành, buôn bán trái phiếu cho nhiều hoàng gia.

Sau chiến thắng của Anh trước Pháp đã đưa gia tộc này thống trị ngành ngân hàng, tạo lập những chuẩn mực hệ thống ngân hàng hiện đại của châu Âu trong suốt 100 năm sau đó hỗ trợ tín dụng, cách mạng về phân phối vốn hiện đại suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 1 diễn ra tại Anh.

Waterloo là đỉnh cao của hơn 2 thập niên xung đột, không chỉ là trận đánh giữa 2 đội quân, mà còn là cuộc tỷ thí giữa hai hệ thống tài chính đối địch nhau : hệ thống thứ nhất của Pháp dưới thời Napoléon dựa vào việc cướp bóc, đánh thuế vơ vét tài sản những kẻ bị chinh phục (giống như các đế quốc trước đó như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha); hệ thống kia của Anh dựa trên phát hành trái phiếu chính phủ khối lượng lớn (vay nợ từ những người bảo trợ có niềm tin vào chính phủ Anh). Và cuối cùng Pháp đã thất bại.

Như vậy tiến bộ cách mạng trong ngành tài chính ngân hàng hiện đại do anh em nhà Rothschild khởi xướng và Công nghệ quan trọng nhất của Châu Âu thời kỳ này là động cơ hơi nước đã nâng cao năng lực cơ khí hóa các nhà máy khai thác than dùng trong luyện thép, chạy máy dệt, và bắt đầu áp dụng trong nâng cao năng lực vận chuyển đường thủy, và là động lực chính cho cuộc CMCN lần thứ nhất

Sản phẩm tác giả đã đăng