🎧 Nghe Podcast Ngay: Bán Đất "Mặt Tiền" Chỉ Để Mua Một Chiếc... Honda Dream? Bài Học Đẫm Nước Mắt Từ Những Cơn Sốt Đất Đầu Tiên! Bạn có biết, ở thập niên 90, có những người sẵn sàng bán đi những mảnh đất vàng giữa trung tâm chỉ để đổi lấy chiếc xe máy Honda DD tành tạch dạo phố? Để rồi 20 năm sau, họ ngồi ôm tiếc nuối khi mảnh đất ấy trị giá hàng trăm tỷ đồng! Thị trường bất động sản Việt Nam đã trải qua những chu kỳ thăng trầm khắc nghiệt ra sao? Những "Cá mập" đời đầu như Tăng Minh Phụng, Phạm Nhật Vượng đã làm gì khi thị trường chạm đáy? Bấm "Play" ngay để cùng Anphareal lên cỗ máy thời gian, quay về năm 1996 và rút ra bài học sinh tử cho túi tiền của bạn ngày hôm nay!
Bài viết này tóm lược lịch sử thị trường và doanh nhân bất động sản (BĐS) Việt Nam, chia làm 3 phần gắn liền với 3 chu kỳ sốt đất (1996, 2006, 2016). Dữ liệu được tổng hợp từ trí nhớ cá nhân và các nguồn thông tin đã được kiểm chứng.
Qua mỗi chu kỳ, chúng ta sẽ thấy những mẫu số chung: từ giai đoạn manh nha, đạt đỉnh, cho đến khi đóng băng. Ở mỗi giai đoạn, có người đánh mất đỉnh cao, nhưng cũng có người tìm thấy cơ hội khởi đầu. Lịch sử luôn chứng minh: Đỉnh cao của người này có thể biến mất, nhưng lại là tiền đề cho người khác bắt đầu.
Lịch sử cận đại của BĐS Việt Nam manh nha từ những năm 1990, khi đất nước bắt đầu công nhận kinh tế tư nhân và du nhập các khái niệm kinh tế thị trường (KTTT). Trước đó, các khái niệm kinh tế vĩ mô, vi mô, hay quản trị doanh nghiệp hoàn toàn xa lạ.
"Nhiều người bán những lô đất đẹp chỉ để mua những chiếc xe Honda DD, Dream cáu cạnh, tiếng nổ êm re re mà cả gia đình có thể ngồi nhìn ngắm cả ngày. Để rồi sau này nhìn lại, họ xuýt xoa tiếc nuối khi biết giá trị mảnh đất đã tăng gấp bội."
Trước những năm 1990, dưới nền kinh tế kế hoạch tập trung, người dân quen với việc được nhà nước phân phối nhà ở. Không có KTTT, nhà mặt tiền cũng chẳng khác nhà trong hẻm vì không có nhu cầu buôn bán. Sinh viên ra trường được phân công đi khắp nơi, di dân cơ học hầu như không có.
Chỉ khi KTTT vận hành, kinh tế tư nhân hình thành, vốn ngoại chảy vào và di dân cơ học bùng nổ, tư liệu sản xuất gốc là BĐS mới thực sự được khẳng định giá trị.
Bối cảnh kinh tế 1996: Vàng ~4 triệu/lượng, USD ~11.000đ/USD, thu nhập bình quân đầu người ~338 USD/năm (thuộc nhóm thấp nhất thế giới).
Năm 1995, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập khối ASEAN. Thế hệ doanh nhân đầu tiên xuất hiện.
Các tập đoàn đa quốc gia (IBM, Motorola, Nokia, Sumitomo, Daewoo...) đổ bộ vào Việt Nam. Các tòa nhà văn phòng hạng A đầu tiên xuất hiện (HITC Cầu Giấy, 17 Ngô Quyền tại HN; PDD Pasteur, Diamond Plaza tại TP.HCM).
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 dần ảnh hưởng đến Việt Nam. Từ 1999, BĐS bước vào chu kỳ đóng băng kéo dài. Điển hình cho sự thất bại giai đoạn này là dự án Thuận Kiều Plaza (xây năm 1994, đón hụt làn sóng người Hong Kong di cư năm 1997, bị bỏ hoang trước khi được Vạn Thịnh Phát mua lại năm 2017).
Trong nguy luôn có cơ, năm 2000, doanh nhân Vũ Quang Hội (Bitexco) đã gom mua khu đất vàng 19-25 Nguyễn Huệ ngay lúc thị trường chạm đáy. Năm 2001, doanh nhân Phạm Nhật Vượng (lúc đó còn ở Ukraina) cũng đổ vốn về Việt Nam xây dựng Vinpearl Nha Trang, đánh dấu bước chân đầu tiên của Vingroup vào BĐS.
Chiến lược hớt váng (Skimming):
Được Phú Mỹ Hưng tiên phong và Vingroup áp dụng cực kỳ thành công sau này. Khi một CĐT tạo ra được một chuẩn mực sống mới, vượt trội về tiện ích và quy hoạch, họ có quyền áp dụng mức giá vượt xa mặt bằng chung để thu siêu lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu các CĐT nhỏ hơn cố tình "ngáo giá" bắt chước theo nhưng sản phẩm kém chất lượng (vẽ dự án 3D, pháp lý mập mờ) sẽ ngay lập tức bị thị trường tẩy chay.
Chiến lược tối đa thị phần (Penetration):
Vào thời điểm thị trường đóng băng, các CĐT như Mường Thanh đã khởi xướng chiến lược nhà giá rẻ để chiếm lĩnh thị trường. Dù hiệu quả về mặt số lượng, nhưng chiến lược này vướng phải 3 cái bẫy:
Có một sự tranh luận không hồi kết giữa Cung và Cầu về giá nhà. Trong khi người mua luôn cảm thấy tốc độ tăng giá BĐS vượt xa tốc độ tăng thu nhập, thì các CĐT lại định giá dựa trên đẳng cấp và mức độ sẵn sàng chi trả của thị trường.
Để giải quyết mâu thuẫn này, cả hai phía đều cần vận động:
"Bởi lẽ phần đông người Việt có an cư thì mới lạc nghiệp, doanh nghiệp do họ vận hành mới có thêm sức mạnh. Những doanh nghiệp BĐS nào biết tạo giá trị đúng, tối ưu cho khách hàng, phục vụ bằng sự tử tế sẽ chiếm được sự trung thành của khách hàng lâu bền nhất."
(Xem tiếp: Phần 2 - Mốc năm 2006)